Định hướng phát triển và giải pháp đột phá thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2026 – 2030

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và sự cạnh tranh về thu hút nguồn lực đầu tư giữa các địa phương, tỉnh Phú Thọ đang đứng trước những thời cơ và thách thức mang tính bước ngoặt. Việc tỉnh Phú Thọ xây dựng và triển khai Đề án tăng trưởng kinh tế “2 con số” giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn 2045 không chỉ là mục tiêu phát triển mà còn là yêu cầu cấp thiết để tái cơ cấu nền kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế của một cực tăng trưởng quan trọng của vùng Thủ đô và vùng Trung du miền núi phía Bắc.

Phường Vĩnh Phúc, tỉnh Phú Thọ. Ảnh: Khánh Linh.

Quá trình phát triển của tỉnh Phú Thọ trong thời gian qua đã chứng minh rằng, tăng trưởng kinh tế không thể chỉ dựa vào các nguồn lực truyền thống hay sự đầu tư đơn thuần từ ngân sách nhà nước. Việc mở rộng không gian phát triển sau khi hợp nhất tạo ra một quy mô thị trường lớn hơn, nhưng đồng thời cũng đặt ra bài toán về tính đồng bộ trong kết cấu hạ tầng, sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các tiểu vùng và yêu cầu khắt khe về chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu. Do đó, việc hoạch định hệ thống chính sách đặc thù và xác định các dự án trọng điểm ưu tiên thu hút đầu tư là một trong các giải pháp quan trọng để giải quyết triệt để các điểm nghẽn, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch, có tính cạnh tranh cao.

Thành tựu kinh tế – xã hội và thực trạng mô hình tăng trưởng giai đoạn 2021-2025

Giai đoạn 2021-2025, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do tác động của đại dịch toàn cầu, sự đứt gãy chuỗi cung ứng và những biến động phức tạp của tình hình địa chính trị thế giới, kinh tế tỉnh Phú Thọ vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Sự chỉ đạo, điều hành linh hoạt, quyết liệt của các cấp ủy Đảng, chính quyền đã mang lại những kết quả quan trọng, khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế – xã hội.

Thứ nhất, về quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế: Tỉnh Phú Thọ đã vươn lên vị trí thứ 6 toàn quốc về quy mô kinh tế và đứng đầu vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Quy mô GRDP theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt 412,4 nghìn tỷ đồng (tương đương 16,3 tỷ USD), tăng gấp 1,7 lần so với năm 2020. Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt 7,9%/năm, vượt xa mức bình quân chung của cả nước (6,2%/năm). Đặc biệt, trong những năm cuối kỳ, tốc độ tăng trưởng đã tiệm cận mức 2 con số, tiêu biểu như năm 2024 đạt 9,26% và năm 2025 đạt trên 10%. Đây là nền tảng hết sức quan trọng, tạo đà tâm lý và động lực mạnh mẽ cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

Thứ hai, về chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa được thể hiện rõ nét qua sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tỷ trọng khu vực công nghiệp – xây dựng tăng mạnh, chiếm 55,43% trong tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế vào năm 2025. Ngành công nghiệp đóng vai trò là động lực dẫn dắt chính với tốc độ tăng trưởng bình quân 11,9%/năm. Các sản phẩm công nghiệp ngày càng đa dạng, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu như linh kiện điện tử, phụ tùng ô tô. Khu vực nông nghiệp giảm tỷ trọng xuống còn 12,5% nhưng chất lượng tăng trưởng được cải thiện thông qua việc hình thành các vùng chuyên canh, ứng dụng công nghệ cao, tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP và phát triển các sản phẩm OCOP. Tuy nhiên, một điểm đáng lưu ý là khu vực dịch vụ có sự sụt giảm về tỷ trọng (từ 34,52% năm 2020 xuống 32,06% năm 2025), cho thấy sự phát triển của lĩnh vực này chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế to lớn về du lịch, logistics và thương mại của địa phương.

Thứ ba, về năng suất lao động và thu nhập: Năng suất lao động có sự cải thiện đáng kể, đạt 223 triệu đồng/người (giá hiện hành) vào năm 2025, gấp 1,8 lần năm 2020. GRDP bình quân đầu người đạt 111,4 triệu đồng/người. Mặc dù vậy, có một nghịch lý cần phải giải quyết là thu nhập thực tế của người dân chỉ đạt 5,3 triệu đồng/người/tháng (bằng khoảng 57% giá trị GRDP/người). Nguyên nhân cốt lõi được nhận diện là do cơ cấu doanh nghiệp chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và hàm lượng khoa học công nghệ còn thấp; khu vực dịch vụ phát triển chưa tương xứng; chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị ở một số lĩnh vực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Điều này đòi hỏi giai đoạn tới phải có chiến lược thu hút đầu tư chọn lọc hơn, ưu tiên các dự án có hàm lượng công nghệ cao, trả lương cao và thúc đẩy nội địa hóa.

Thứ tư, về huy động các nguồn lực đầu tư: Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2021-2025 đạt 606,2 nghìn tỷ đồng. Cơ cấu vốn có sự chuyển dịch tích cực, giảm dần sự phụ thuộc vào vốn ngân sách nhà nước, tăng tỷ trọng vốn khu vực ngoài nhà nước (đạt 52,54% năm 2025) và vốn FDI (23,73%). Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, khu công nghiệp, đô thị, y tế, giáo dục được đầu tư đồng bộ. Các tuyến cao tốc, đường liên vùng, các khu công nghiệp quy mô lớn đã tạo thành mạng lưới hạ tầng liên hoàn, gia tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư.

Những thành tựu đạt được trong giai đoạn 2021-2025 là minh chứng cho định hướng đúng đắn của tỉnh. Tuy nhiên, Đề án tăng trưởng kinh tế “2 con số” của tỉnh cũng đã chỉ ra những điểm nghẽn: mô hình tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào phát triển theo chiều rộng, khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ; sự phụ thuộc vào khu vực FDI còn lớn; mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa còn yếu; đóng góp của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo vào tăng trưởng chưa cao. Những tồn tại này chính là cơ sở thực tiễn để tỉnh hoạch định các chính sách đặc thù trong giai đoạn 2026-2030.

Mục tiêu tổng quát giai đoạn 2026-2030

Căn cứ định hướng của Trung ương và điều kiện thực tiễn, tỉnh Phú Thọ xác định mục tiêu tổng quát trong giai đoạn 2026-2030 là xây dựng tỉnh trở thành một trong những cực tăng trưởng quan trọng của vùng Thủ đô và vùng Trung du miền núi phía Bắc; phát triển nhanh, bền vững trên cơ sở khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát huy mạnh mẽ vai trò của kinh tế tư nhân. Tỉnh phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng 11-12%/năm, tăng trưởng “2 con số” một cách bền vững, hướng tới mục tiêu đến năm 2045 trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.

Để cụ thể hóa mục tiêu tổng quát, hàng loạt chỉ tiêu kinh tế – xã hội chủ yếu được xác lập mang tính phấn đấu cao, đòi hỏi sự nỗ lực vượt bậc của toàn hệ thống chính trị và sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp. Về kinh tế, bên cạnh tốc độ tăng trưởng GRDP, tỉnh đặt mục tiêu thu hẹp khoảng cách giữa GRDP bình quân đầu người và thu nhập thực tế của người dân, nâng cao tỷ trọng đóng góp của các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng, phấn đấu đạt trên 55%. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP dự kiến đạt từ 25-30%. Về cơ cấu kinh tế, tiếp tục duy trì tỷ trọng công nghiệp ở mức cao, đồng thời có kế hoạch thúc đẩy mạnh mẽ khu vực dịch vụ nhằm đưa tỷ trọng dịch vụ lên mức tương xứng với tiềm năng, đặc biệt là phát triển các ngành dịch vụ giá trị gia tăng cao như logistics, tài chính, du lịch nghỉ dưỡng cao cấp.

Về xã hội và môi trường, tỉnh kiên định quan điểm không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế. Các chỉ tiêu về giảm nghèo đa chiều, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ, tỷ lệ dân số sử dụng nước sạch, tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải đô thị, y tế và giáo dục đều được đặt ở mức cao, phù hợp với tiêu chuẩn của một đô thị trung tâm cấp vùng trong tương lai gần.

Giải pháp phát triển hài hòa các thành phần kinh tế với trọng tâm là kinh tế ngoài nhà nước

Nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, bài toán đặt ra cho công tác điều hành vĩ mô của tỉnh là phải huy động tối đa và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực xã hội. Trong đó, giải pháp cốt lõi là phát triển hài hòa các thành phần kinh tế, đưa kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng nhất, đồng thời nâng cao chất lượng dòng vốn đầu tư nước ngoài và đổi mới khu vực kinh tế nhà nước.

Đổi mới, nâng cao hiệu quả khu vực kinh tế nhà nước: Tỉnh Phú Thọ sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác sắp xếp, cơ cấu lại, cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp theo đúng lộ trình được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Việc thoái vốn sẽ được thực hiện công khai, minh bạch, nhằm mục đích thu hút các nhà đầu tư chiến lược có năng lực tài chính, công nghệ và quản trị hiện đại. Đồng thời, chuyển một số đơn vị sự nghiệp sang tự chủ tài chính, tiến tới cổ phần hóa một số đơn vị đủ điều kiện. Việc đổi mới cơ chế hoạt động của đơn vị sự nghiệp công được đẩy mạnh – chuyển từ cơ chế cấp phát sang đặt hàng dịch vụ công, từ hỗ trợ đơn vị cung ứng sang hỗ trợ trực tiếp đối tượng thụ hưởng.

Thúc đẩy mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân: Xác định kinh tế tư nhân là động lực chính trong tăng trưởng kinh tế, tỉnh sẽ tập trung cải thiện triệt để môi trường đầu tư kinh doanh. Giải pháp ưu tiên là cắt giảm các rào cản hành chính, đơn giản hóa thủ tục tiếp cận đất đai, tín dụng và thị trường. Tỉnh sẽ vận hành hiệu quả mô hình chính quyền điện tử, cung cấp 100% dịch vụ công trực tuyến toàn trình đối với các thủ tục đủ điều kiện. Ngoài ra, cơ quan quản lý nhà nước sẽ chuyển mạnh tư duy từ “quản lý, cấp phép” sang “kiến tạo, đồng hành”. Các chương trình ươm tạo doanh nghiệp, hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, hỗ trợ pháp lý và đào tạo nhân lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ được bố trí nguồn lực phù hợp. Mục tiêu là phát triển một đội ngũ doanh nhân địa phương lớn mạnh, hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, đóng vai trò dẫn dắt các chuỗi cung ứng trong nông nghiệp công nghệ cao, dịch vụ và công nghiệp phụ trợ.

Nâng cao chất lượng thu hút đầu tư nước ngoài (FDI): Với quy mô vốn FDI đăng ký trên 15 tỷ USD, vốn thực hiện đạt trên 9,4 tỷ USD (thời điểm phê duyệt Đề án vốn thực hiện đạt trên 9,2 tỷ USD), khu vực FDI đang là động lực quan trọng. Tuy nhiên, trong giai đoạn tới, tỉnh sẽ chuyển đổi chiến lược thu hút FDI từ “số lượng” sang “chất lượng”. Các tiêu chí thu hút đầu tư sẽ dựa trên hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng, năng lực bảo vệ môi trường và khả năng liên kết, chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước. Tỉnh sẽ kiên quyết từ chối các dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, thâm dụng lao động giản đơn, tiêu tốn nhiều tài nguyên hoặc có nguy cơ gây ô nhiễm. Công tác xúc tiến đầu tư sẽ được định hướng cụ thể theo ngành, lĩnh vực mục tiêu, tập trung vào các đối tác chiến lược tại các quốc gia phát triển, các tập đoàn đa quốc gia có hệ sinh thái R&D (Nghiên cứu và Phát triển) mạnh mẽ.

Để tạo ra cú hích thực sự cho các thành phần kinh tế, đặc biệt là thu hút các dự án quy mô lớn từ khu vực ngoài nhà nước, tỉnh Phú Thọ sẽ xây dựng một hệ thống các chính sách đặc thù mang tính cạnh tranh cao. Các chính sách này tuân thủ các quy định pháp luật chung của Trung ương nhưng linh hoạt tận dụng tối đa thẩm quyền của địa phương nhằm giảm thiểu rủi ro, thời gian và chi phí cho nhà đầu tư.

Trên cơ sở định hướng không gian phát triển mới sau hợp nhất, tỉnh Phú Thọ đưa ra danh mục các dự án ưu tiên đầu tư giai đoạn 2026-2030. Đây là các dự án có tính chất lan tỏa, tạo động lực phát triển liên vùng, được thiết kế để mời gọi dòng vốn từ khu vực tư nhân và FDI.

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế “2 con số” của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn 2045 là một mục tiêu mang tính chiến lược, phản ánh khát vọng vươn lên mạnh mẽ của tỉnh sau hợp nhất, trong đó lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo làm nền tảng và kinh tế tư nhân làm động lực đột phá.

Việc triển khai đồng bộ các giải pháp, trong đó phát triển hài hòa các thành phần kinh tế, được cụ thể hóa bằng hệ thống các chính sách đặc thù linh hoạt và danh mục các dự án ưu tiên đầu tư mang tính trọng điểm, sẽ tạo ra một môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, kiến tạo, phát huy được tiềm năng, cơ hội phát triển bền vững của tỉnh Phú Thọ trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Các dự án dự kiến ưu tiên đầu tư giai đoạn 2026-2030, có sự tham gia của nguồn vốn ngoài nhà nước, theo Đề án tăng trưởng kinh tế “2 con số” của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn 2045:

– Lĩnh vực Giao thông vận tải (07 dự án).

– Lĩnh vực Công nghiệp, năng lượng (02 dự án).

– Lĩnh vực Đô thị – Thương mại (03 dự án).

– Lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Đổi mới sáng tạo (02 dự án).

– Lĩnh vực Nông nghiệp và phòng chống thiên tai (01 dự án).

– Lĩnh vực Môi trường (02 dự án).

– Lĩnh vực Giáo dục – Đào tạo (02 dự án).

– Lĩnh vực Y tế – Xã hội (03 dự án).

Nguyễn Hoàng Nam