Trong tiến trình đổi mới, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Khu vực này góp phần bổ sung nguồn lực đầu tư, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển công nghiệp, mở rộng xuất khẩu, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, tiếp nhận công nghệ và phương thức quản trị hiện đại, từng bước đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị quán triệt phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tạo liên kết và lan tỏa đối với các khu vực kinh tế trong nước.
Để triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Thọ ban hành Kế hoạch hành động số 80-KH/TU ngày 17/8/2026, thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Kế hoạch 80-KH/TU đã cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của Trung ương, đồng thời xác định những định hướng phù hợp với điều kiện, tiềm năng và yêu cầu phát triển của tỉnh trong giai đoạn mới. Theo Kế hoạch, phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải được đặt trong tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, gắn với quy hoạch, kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, công nghiệp hỗ trợ, logistics, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Xây dựng Phú Thọ thành điểm đến hấp dẫn đối dòng vốn FDI thế hệ mới
Kế hoạch hành động của Ban Thường vụ Tỉnh ủy xác định mục tiêu tổng quát là xây dựng Phú Thọ trở thành trung tâm công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, logistics và đổi mới sáng tạo của vùng Trung du và miền núi phía Bắc; trở thành điểm đến hấp dẫn đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài thế hệ mới, các tập đoàn đa quốc gia, nhà đầu tư chiến lược, trung tâm nghiên cứu và phát triển, trung tâm dữ liệu, trung tâm đổi mới sáng tạo, cũng như các chuỗi sản xuất và chuỗi cung ứng toàn cầu. Đồng thời, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.
Kế hoạch đặt ra một số chỉ tiêu cụ thể. Giai đoạn 2026-2030, tổng vốn FDI thu hút mới và tăng thêm phấn đấu đạt từ 8 đến 10 tỷ USD; trong đó vốn đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại đạt 75%. Vốn FDI thực hiện đạt từ 6 đến 8 tỷ USD; khu vực FDI đóng góp khoảng 32-34% GRDP của tỉnh. Tỉnh phấn đấu thu hút từ 1 đến 5 tập đoàn đa quốc gia thuộc Fortune Global 500 hoặc các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới. Bên cạnh quy mô vốn, Kế hoạch đặt ra những chỉ tiêu phản ánh chất lượng và mức độ lan tỏa của FDI. Tỉnh phấn đấu có ít nhất một trung tâm R&D, trung tâm đổi mới sáng tạo hoặc trung tâm dữ liệu quy mô vùng; vốn FDI chiếm khoảng 25-27% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; tỷ lệ nội địa hóa bình quân trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 45-50%; có ít nhất 100 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI, trong đó có ít nhất 20 doanh nghiệp cấp I. Tỷ lệ lao động qua đào tạo được đặt mục tiêu trên 80-85%; đồng thời phấn đấu có ít nhất một khu công nghiệp tiệm cận tiêu chuẩn khu công nghiệp sinh thái, một khu công nghiệp công nghệ cao và hình thành một trung tâm logistics cấp vùng. Định hướng đến năm 2045, khu vực FDI được xác định đóng góp khoảng 35-40% GRDP; Phú Thọ trở thành trung tâm sản xuất, đổi mới sáng tạo, logistics và công nghiệp hỗ trợ của vùng Trung du và miền núi phía Bắc.
Bốn khâu đột phá chiến lược
Thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới, chất lượng cao, công nghệ cao: Kế hoạch xác định phải chuyển mạnh từ thu hút đầu tư theo chiều rộng sang thu hút đầu tư theo chiều sâu. Chất lượng, hiệu quả, công nghệ, đổi mới sáng tạo, giá trị gia tăng, hiệu quả sử dụng đất, bảo vệ môi trường và đóng góp đối với phát triển kinh tế – xã hội được xác định là những tiêu chí chủ yếu khi lựa chọn dự án. Danh mục định hướng ưu tiên gồm công nghệ cao, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, điện tử, bán dẫn, cơ khí chính xác, công nghiệp hỗ trợ, logistics hiện đại, trung tâm dữ liệu, R&D, đổi mới sáng tạo, năng lượng xanh, vật liệu mới và những ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học công nghệ cao, khả năng lan tỏa lớn. Đây là định hướng có ý nghĩa trực tiếp đối với hoạt động xúc tiến đầu tư. Công tác xúc tiến phải được tổ chức trên cơ sở xác định rõ ngành, lĩnh vực, thị trường, nhà đầu tư và địa điểm phù hợp, thay vì tổ chức hoạt động quảng bá dàn trải. Đối với từng nhóm ngành, cần xác định những điều kiện mà nhà đầu tư quan tâm như quỹ đất, hạ tầng điện và nước, logistics, nhân lực, kết nối giao thông, khả năng cung ứng của doanh nghiệp trong nước và các chính sách hỗ trợ theo pháp luật.
Thu hút nhà đầu tư chiến lược, tập đoàn đa quốc gia và hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo: Phú Thọ đặt mục tiêu chủ động tiếp cận các tập đoàn kinh tế lớn, công ty xuyên quốc gia, doanh nghiệp thuộc nhóm Fortune Global 500 và các nhà đầu tư chiến lược trong công nghệ cao, chế biến chế tạo, logistics, hạ tầng chiến lược, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Điểm quan trọng của định hướng này là không chỉ thu hút một dự án đầu tư mà hướng tới thu hút cả hệ sinh thái hoạt động của nhà đầu tư. Một tập đoàn lớn có thể tạo nhu cầu về nhà cung ứng, logistics, nhân lực, dịch vụ tài chính, nghiên cứu phát triển và các dịch vụ hỗ trợ khác. Vì vậy, hiệu quả của dự án phải được đánh giá cả ở khả năng dẫn dắt và lan tỏa đối với doanh nghiệp địa phương.
Tăng cường liên kết FDI với doanh nghiệp trong nước: Kế hoạch xác định liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước là khâu đột phá có ý nghĩa chiến lược nhằm nâng cao tính tự chủ, khả năng chống chịu và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Theo đó, tỉnh tập trung hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực quản trị, công nghệ, tiêu chuẩn chất lượng, năng lực sản xuất và khả năng đáp ứng yêu cầu của các tập đoàn đa quốc gia. Đồng thời, thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ, hình thành mạng lưới doanh nghiệp cung ứng cấp 1, cấp 2 tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao: Kế hoạch xác định nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định để nâng cao chất lượng thu hút đầu tư, tiếp nhận công nghệ tiên tiến, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh. Định hướng đào tạo tập trung vào công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, điện tử, bán dẫn, tự động hóa, logistics, quản trị chuỗi cung ứng, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp FDI được khuyến khích tham gia đào tạo, bồi dưỡng và chuyển giao kỹ năng cho người lao động. Tỉnh định hướng thu hút chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư và lao động trình độ cao trong và ngoài nước đến làm việc, nghiên cứu và khởi nghiệp.
Chín nhóm nhiệm vụ và giải pháp lớn
Trước hết là đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và thống nhất hành động. Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị – xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân phải nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tư duy thu hút đầu tư phải chuyển từ số lượng sang chất lượng, hiệu quả, công nghệ, đổi mới sáng tạo, giá trị gia tăng, bảo vệ môi trường và khả năng lan tỏa. Kế hoạch đồng thời nêu rõ yêu cầu không đánh đổi môi trường, tài nguyên, an sinh xã hội và an ninh kinh tế để đổi lấy tăng trưởng đơn thuần.
Thứ hai là hoàn thiện cơ chế, chính sách thuộc thẩm quyền, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh. Tỉnh tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng đồng bộ, minh bạch, ổn định và cạnh tranh; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng và môi trường; lấy doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Cơ chế đồng hành cùng nhà đầu tư phải được thực hiện thực chất, bao gồm hỗ trợ đầu tư, tháo gỡ khó khăn và hậu kiểm sau cấp phép.
Thứ ba là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tỉnh triển khai Đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng hệ sinh thái đào tạo gắn Nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp; đẩy mạnh đào tạo phục vụ các ngành công nghệ cao, điện tử, bán dẫn, AI, tự động hóa, logistics, quản trị chuỗi cung ứng, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.
Thứ tư là phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng phục vụ thu hút FDI thế hệ mới. Trọng tâm là giao thông, hạ tầng công nghiệp, logistics, hạ tầng số và hạ tầng đổi mới sáng tạo; bảo đảm điện, nước, hạ tầng số, quỹ đất sạch và dịch vụ hỗ trợ cho dự án chất lượng cao. Tỉnh định hướng phát triển khu công nghiệp hiện đại, chuyên sâu, sinh thái, thông minh; đẩy nhanh các trung tâm logistics, trung tâm phân phối, kho vận hiện đại; phát triển hạ tầng số, trung tâm dữ liệu và hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, R&D. Kế hoạch cũng đề cập tiếp tục hoàn thiện Đề án nghiên cứu thành lập khu thương mại tự do Phú Thọ để báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Thứ năm là đổi mới định hướng và nâng cao chất lượng thu hút FDI. Tỉnh triển khai các đề án về thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới và nhà đầu tư chiến lược; chủ động tiếp cận, lựa chọn nhà đầu tư có năng lực tài chính, công nghệ, quản trị và sức lan tỏa lớn. Các lĩnh vực ưu tiên bao gồm điện tử, bán dẫn, AI, công nghệ sinh học, công nghệ số, cơ khí chính xác, công nghiệp hỗ trợ, logistics hiện đại, trung tâm dữ liệu, R&D, năng lượng xanh, vật liệu mới và các ngành công nghệ cao.
Thứ sáu là thúc đẩy chuyển giao công nghệ, liên kết FDI với doanh nghiệp trong nước và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Đây là nhóm nhiệm vụ trực tiếp gắn với mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa và hình thành mạng lưới doanh nghiệp cung ứng. Doanh nghiệp trong nước được hỗ trợ nâng cao quản trị, công nghệ, tiêu chuẩn chất lượng và năng lực đáp ứng yêu cầu của các tập đoàn đa quốc gia. Doanh nghiệp FDI được khuyến khích chia sẻ kinh nghiệm quản trị, công nghệ, đào tạo nhân lực và hỗ trợ doanh nghiệp địa phương.
Thứ bảy là đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư. Kế hoạch yêu cầu chuyển từ xúc tiến dàn trải sang xúc tiến chủ động, có trọng tâm, trọng điểm, dựa trên dữ liệu, chuyên nghiệp, thực chất và dài hạn. Trọng tâm không chỉ là tiếp cận nhà đầu tư mới mà còn là vận động, đàm phán, đồng hành với nhà đầu tư chiến lược, hỗ trợ sau cấp phép, tháo gỡ khó khăn cho dự án hiện hữu và khuyến khích mở rộng những dự án chất lượng cao. Tỉnh cũng định hướng xây dựng cơ sở dữ liệu nhà đầu tư chiến lược, đối tác chiến lược, tập đoàn hàng đầu, định chế tài chính và quỹ đầu tư lớn, với phương án tiếp cận riêng theo từng thị trường, ngành và địa bàn.
Thứ tám là nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với FDI. Tỉnh xây dựng và áp dụng bộ chỉ số đánh giá chất lượng kinh tế có vốn FDI; đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội, sử dụng đất, chuyển giao công nghệ và đóng góp của dự án. Chuyển đổi số trong quản lý đầu tư được đẩy mạnh. Đồng thời, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý dự án chậm triển khai, sử dụng đất kém hiệu quả hoặc không thực hiện đúng cam kết; bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội trong quá trình thu hút và quản lý FDI.
Thứ chín là nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan liên quan. Kế hoạch đề cao công tác tư tưởng, dân vận, quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ tại doanh nghiệp FDI; đồng thời phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, cộng đồng doanh nghiệp và người lao động.

Vai trò của Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ trong phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Căn cứ Nghị quyết số 10-NQ/TW, Kế hoạch 80-KH/TU, Quy hoạch tỉnh và chức năng, nhiệm vụ được giao, có thể xác định một số nhóm nhiệm vụ ưu tiên của Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ, giai đoạn 2026-2030 trong phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh.
Một là, tham mưu chuyển đổi phương thức xúc tiến đầu tư từ diện rộng sang trọng điểm, tập trung vào nhà đầu tư chiến lược và ngành, lĩnh vực ưu tiên.
Hai là, xây dựng hệ thống dữ liệu xúc tiến đầu tư thống nhất, có khả năng cập nhật về dự án, địa điểm, hạ tầng, chính sách ưu đãi, doanh nghiệp, nhà cung ứng và nhà đầu tư mục tiêu.
Ba là, xây dựng danh mục nhà đầu tư chiến lược theo từng ngành, có hồ sơ nghiên cứu và kế hoạch tiếp cận riêng.
Bốn là, xây dựng cơ chế theo dõi và hỗ trợ nhà đầu tư trong toàn bộ vòng đời dự án, đặc biệt là dự án quy mô lớn, dự án công nghệ cao và dự án có khả năng lan tỏa.
Năm là, thiết lập chương trình kết nối cung – cầu giữa FDI và doanh nghiệp trong nước, lấy kết quả hợp tác thực tế làm thước đo.
Sáu là, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực tham gia chuỗi cung ứng, ưu tiên các doanh nghiệp có khả năng trở thành nhà cung ứng cấp 1 và cấp 2.
Bảy là, vận động mở rộng đầu tư từ các doanh nghiệp FDI hiện hữu, coi các dự án đang hoạt động là một nguồn quan trọng để hình thành các dự án vệ tinh và chuỗi cung ứng mới.
Tám là, tăng cường nghiên cứu thị trường và đối tác quốc tế, đặc biệt các nền kinh tế phát triển và các tập đoàn có công nghệ, vốn và năng lực quản trị hiện đại, phù hợp mục tiêu thu hút 75% vốn FDI từ các nền kinh tế phát triển.
Chín là, phối hợp phát triển nguồn nhân lực phục vụ FDI, kết nối doanh nghiệp với cơ sở đào tạo và hỗ trợ thông tin về nhu cầu lao động.
Mười là, phối hợp tham gia xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng đầu tư nước ngoài, cung cấp dữ liệu và thông tin phục vụ quản lý nhà nước.
Mười một là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong xúc tiến và hỗ trợ đầu tư, phát triển các công cụ trực tuyến để nhà đầu tư có thể tiếp cận thông tin về quy hoạch, địa điểm, thủ tục, chính sách, hạ tầng và cơ hội đầu tư.
Mười hai là, nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác xúc tiến đầu tư, bảo đảm cán bộ có năng lực nghiên cứu thị trường, ngoại ngữ, kỹ năng đàm phán, hiểu biết pháp luật đầu tư, quy hoạch, đất đai, xây dựng, môi trường và khả năng làm việc với các tập đoàn quốc tế.
Kế hoạch hành động số 80-KH/TU ngày 17/8/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Thọ thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định rõ định hướng phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài của Phú Thọ trong giai đoạn 2026-2030 và định hướng đến năm 2045. Trọng tâm của Kế hoạch là chuyển mạnh từ thu hút FDI theo số lượng sang thu hút có chọn lọc, ưu tiên chất lượng, công nghệ, đổi mới sáng tạo, giá trị gia tăng, hiệu quả sử dụng đất, bảo vệ môi trường và khả năng lan tỏa.
Đối với Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ, yêu cầu đặt ra là đổi mới phương thức hoạt động theo hướng chủ động, chuyên nghiệp, dựa trên dữ liệu, có trọng tâm và gắn với kết quả. Trung tâm cần tập trung vào nghiên cứu nhà đầu tư mục tiêu, xây dựng dữ liệu đầu tư, xúc tiến theo ngành và nhà đầu tư cụ thể, hỗ trợ dự án trong toàn bộ vòng đời, kết nối FDI với doanh nghiệp trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp địa phương nâng cao năng lực cung ứng, vận động mở rộng đầu tư và chủ động nắm bắt, đề xuất tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.
Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn mới cần được nhìn nhận là một bộ phận của quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng của Phú Thọ. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là có thêm dự án, thêm vốn, mà là tạo thêm năng lực sản xuất, công nghệ, việc làm có chất lượng, doanh nghiệp cung ứng, nguồn nhân lực, hạ tầng và các liên kết kinh tế có khả năng duy trì trong dài hạn. Kế hoạch hành động số 80-KH/TU là cơ sở để tỉnh Phú Thọ triển khai các nhiệm vụ và giải pháp, từng bước nâng cao chất lượng khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, thực hiện mục tiêu trở thành trung tâm công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, logistics và đổi mới sáng tạo của vùng Trung du và miền núi phía Bắc, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2026-2030 và định hướng phát triển đến năm 2045./.
Nguyễn Hoàng Nam
