Nhằm cụ thể hóa giải pháp phát triển nguồn nhân lực tỉnh Phú Thọ theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030, định hướng Quy hoạch tỉnh điều chỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ ban hành Quyết định số 3092/QĐ-UBND ngày 12/9/2026 phê duyệt Đề án Phát triển nguồn nhân lực tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Việc triển khai Đề án được xác định là khâu đột phá chiến lược, tạo nền tảng để phát triển thị trường lao động hiện đại, minh bạch; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế; đồng thời xây dựng Phú Thọ trở thành địa phương có nguồn nhân lực chất lượng cao, thích ứng với chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, tạo động lực cho phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững.
Thuận lợi và thách thức đan xen
Tỉnh Phú Thọ được xác định là trung tâm vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Với quy mô dân số trên 4 triệu người sau khi tiến hành sắp xếp các đơn vị hành chính, trong đó lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên chiếm trên 2 triệu người (tương đương trên 52% dân số), tỉnh đang sở hữu một lợi thế cạnh tranh về quy mô nguồn cung lao động đang trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”.
Trong giai đoạn 2020 – 2025, kinh tế của tỉnh có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định. Điển hình, năm 2025 GRDP của tỉnh ước đạt 412,4 nghìn tỷ đồng, tăng 10,52%. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động đã có sự chuyển dịch tích cực: tỷ trọng lao động khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ chiếm khoảng 86,8%, trong khi khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đã giảm mạnh xuống còn khoảng 13,2%. Năng suất lao động bình quân năm 2025 ước đạt trên 200 triệu đồng/người/năm, tăng hơn 1,7 lần so với năm 2020. Tỷ lệ lao động qua đào tạo ước đạt 73,3%, trong đó lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt 34,6%.
Tuy nhiên, khi đặt trong bối cảnh các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới có hiệu lực, sự dịch chuyển của các chuỗi cung ứng toàn cầu và đặc biệt là yêu cầu của nền kinh tế số, kinh tế xanh, đổi mới sáng tạo với mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân 11-12%/năm giai đoạn tới, thị trường lao động của Phú Thọ đang đối mặt với những thách thức không nhỏ. Tỷ lệ lao động có kỹ năng nghề chất lượng cao, có khả năng làm chủ công nghệ mới, kỹ năng số, năng lực ngoại ngữ và năng lực quản trị, đổi mới sáng tạo còn thấp. Thực tế tại các khu, cụm công nghiệp cho thấy các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn thường xuyên đối mặt với tình trạng thiếu nhân lực chất lượng cao. Nguồn nhân lực trong các lĩnh vực trọng điểm như công nghiệp điện tử, năng lượng tái tạo, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), logistics và quản trị doanh nghiệp đang thiếu hụt đáng kể. Sự liên kết giữa các cơ quan quản lý nhà nước, hệ thống nhà trường (các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đại học) và khối doanh nghiệp chưa thực sự đi vào chiều sâu, dẫn đến công tác dự báo cung – cầu lao động còn bị động, lực lượng lao động được đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thị trường.
Nền tảng phát triển thị trường lao động minh bạch, hiệu quả, dựa trên dữ liệu
Nhằm đổi mới mô hình quản trị và phát triển nguồn nhân lực theo hướng lấy mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, nhu cầu của thị trường lao động và năng lực của người lao động làm trung tâm, Đề án xác định việc thay đổi phương thức quản lý là bước đi tiên quyết. Trọng tâm đổi mới là chuyển từ phương thức quản lý chủ yếu dựa trên thống kê lao động và báo cáo định kỳ sang quản trị phát triển nguồn nhân lực dựa trên mục tiêu, năng lực, dữ liệu và kết quả; từng bước hình thành khả năng nhận diện nhu cầu nhân lực, xác định khoảng cách kỹ năng, tổ chức phát triển năng lực, kết nối việc làm, đo lường kết quả và hỗ trợ dự báo, điều hành chính sách.
Cụ thể, Đề án áp dụng mô hình quản trị theo chu trình chuẩn quốc tế PDCA (Plan – Do – Check – Act: Lập kế hoạch – Thực hiện – Kiểm tra – Cải tiến) để thiết kế quy trình xây dựng, triển khai và đánh giá chính sách. Điều này đảm bảo mọi chính sách về lao động đều có tính liên tục, khả năng đo lường và tự điều chỉnh linh hoạt theo những biến động của nền kinh tế.
Đề án áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái nguồn nhân lực số tích hợp. Hệ sinh thái này lấy dữ liệu làm nền tảng cốt lõi, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ phân tích dữ liệu lớn (Big Data) để nâng cao năng lực quản trị, điều hành theo thời gian thực. Theo đó, tỉnh sẽ hình thành Trung tâm điều hành thông minh về nguồn nhân lực (HR-IOC) và Nền tảng Dữ liệu Nhân sự (HR Data Platform). Hệ thống này có khả năng phân tích xu hướng tuyển dụng trên địa bàn, giúp cơ quan chức năng và cơ sở đào tạo nhận diện sớm nguy cơ mất cân đối cung cầu, dự báo chính xác số lượng, chất lượng nhân lực thiếu hụt cho từng ngành kinh tế trọng điểm. Kết hợp với hệ thống định danh năng lực cá nhân (Skill-ID), giúp kết nối giữa người lao động và nhà tuyển dụng, giảm thiểu chi phí và thời gian tìm kiếm việc làm, bảo đảm tính minh bạch và cơ hội bình đẳng cho mọi người dân.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp
Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không dừng lại ở việc nâng cao tỷ lệ lao động được đào tạo mà phải đáp ứng chính xác, kịp thời yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế và những đòi hỏi thực tiễn từ khối các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh.
Để đáp ứng các mục tiêu đã đặt ra, Đề án xây dựng phương pháp xác định nhu cầu nhân lực từ 5 lớp nhu cầu chiến lược: (1) Phục vụ tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng suất; (2) Phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế; (3) Phục vụ chuyển đổi số và phát triển kinh tế số; (4) Phục vụ các ngành kinh tế động lực; (5) Phục vụ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển hệ sinh thái tri thức.
Nguồn lực sẽ được ưu tiên tập trung phát triển gắn với các ngành kinh tế ưu tiên và các trụ cột phát triển mới của tỉnh, bám sát nhu cầu của doanh nghiệp:
Công nghiệp công nghệ cao và chế biến chế tạo: Trở thành động lực tăng
trưởng chủ yếu của tỉnh; phát triển các KCN, cụm công nghiệp, công nghiệp công nghệ cao.
Logistics, thương mại và dịch vụ hiện đại: Hình thành trung tâm logistics và dịch vụ vùng; phát triển kinh tế số và thương mại hiện đại.
Du lịch, văn hóa và kinh tế dịch vụ bản địa: Phát huy lợi thế văn hóa Hùng Vương, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng và dịch vụ trải nghiệm.
Nông nghiệp công nghệ cao và kinh tế nông thôn: Phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp thông minh, kinh tế nông thôn và chuỗi giá trị nông sản .
Chuyển đổi số, AI và khoa học công nghệ: Hình thành động lực tăng trưởng mới dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số.
Quản trị phát triển và lãnh đạo đổi mới: Nâng cao chất lượng đội ngũ lãnh đạo, quản lý trong khu vực công và khu vực tư.
Khung chuẩn năng lực nguồn nhân lực
Trên cơ sở các mục tiêu phát triển nguồn nhân lực của Nghị quyết số 33-NQ/TU, để gắn kết chặt chẽ chuẩn đầu ra của giáo dục, đào tạo với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp, khung chuẩn năng lực nguồn nhân lực tỉnh Phú Thọ được tổ chức thành 08 nhóm năng lực chiến lược, phản ánh toàn diện yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn mới.
– Nhóm năng lực công dân số và học tập suốt đời: Trang bị các năng lực nền tảng cho mọi công dân, bao gồm kỹ năng số, ngoại ngữ, kỹ năng sử dụng trí tuệ nhân tạo, kỹ năng mềm, kỹ năng học tập suốt đời và khả năng thích ứng với môi trường làm việc hiện đại.
– Nhóm năng lực nghề nghiệp và kỹ năng lao động: Chuẩn hóa năng lực nghề nghiệp theo vị trí việc làm; phát triển kỹ năng nghề, kỹ năng thực hành và kỹ năng thích ứng nhằm nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo, lao động có kỹ năng và năng suất lao động.
– Nhóm năng lực số, khoa học công nghệ, AI và STEM: Phát triển nguồn nhân lực trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu và STEM; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số và đổi mới sáng tạo.
– Nhóm năng lực đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp: Hình thành năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, phát triển sản phẩm và chuyển giao công nghệ; góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế địa phương.
– Nhóm năng lực quản trị và lãnh đạo: Phát triển năng lực quản trị hiện đại cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý trong khu vực công và khu vực tư; tăng cường năng lực quản trị số, quản trị đổi mới sáng tạo và quản trị theo mục tiêu.
– Nhóm năng lực ngành kinh tế trọng điểm: Phát triển chuẩn năng lực phục vụ các ngành, lĩnh vực trọng điểm của tỉnh theo Quy hoạch tỉnh như công nghiệp chế biến, chế tạo; công nghiệp công nghệ cao; logistics; thương mại; du lịch; nông nghiệp công nghệ cao; y tế; giáo dục và các ngành dịch vụ chất lượng cao.
– Nhóm năng lực hội nhập quốc tế: Phát triển ngoại ngữ, kỹ năng làm việc trong môi trường quốc tế, năng lực hợp tác, chuyển giao công nghệ và thích ứng với thị trường lao động khu vực và quốc tế.
– Nhóm năng lực thích ứng và phát triển bền vững: Phát triển năng lực thích ứng với chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, phát triển bền vững và bảo đảm cơ hội tiếp cận đào tạo, việc làm cho mọi nhóm đối tượng; góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau.
Chính sách phát triển nguồn nhân lực
Công tác phát triển nguồn nhân lực được xác định là một trong những trụ cột chiến lược của phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, với 5 nhóm chính sách chủ đạo:
– Đào tạo và chuẩn hóa nhân lực: Đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường lao động và định hướng ngành mũi nhọn; chuẩn hóa chương trình theo Khung trình độ quốc gia, hướng tới chuẩn quốc tế; mở rộng mô hình liên kết Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp để sinh viên tốt nghiệp có việc làm phù hợp.
– Phát triển và thu hút nhân lực tỉnh: Tập trung đào tạo, thu hút đội ngũ chuyên gia, kỹ sư, công nhân kỹ thuật lành nghề trong lĩnh vực công nghiệp, công nghệ cao, dịch vụ hiện đại; áp dụng chính sách đãi ngộ đặc thù và môi trường làm việc sáng tạo để thu hút nhân tài, nhà khoa học.
– Gắn đào tạo với thị trường lao động: Hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động, xây dựng sàn giao dịch việc làm số, hỗ trợ chuyển đổi nghề, nhất là lao động nông nghiệp; phát triển hệ thống trung tâm việc làm, tư vấn nghề và khởi nghiệp.
– Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức: Chuẩn hóa năng lực cán bộ quản lý nhà nước theo hướng hiện đại, số hóa, 5 rõ; bồi dưỡng kỹ năng số, ngoại ngữ, năng lực hội nhập quốc tế cho cán bộ trẻ; áp dụng cơ chế đánh giá theo kết quả đầu ra và trách nhiệm giải trình.
– Huy động nguồn lực và hợp tác phát triển nhân lực: Đa dạng hóa nguồn vốn từ ngân sách – doanh nghiệp – xã hội hóa – hợp tác quốc tế; mở rộng liên kết với trường đại học, viện nghiên cứu trong và ngoài nước; khuyến khích doanh nghiệp thành lập cơ sở đào tạo nội bộ gắn với chiến lược nhân lực của tỉnh.
Đề án Phát triển nguồn nhân lực tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045 hướng tới xây dựng mô hình quản trị nguồn nhân lực hiện đại, thống nhất, lấy con người làm trung tâm, lấy chất lượng nguồn nhân lực làm động lực phát triển và lấy dữ liệu làm nền tảng cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và hoạch định chính sách.
Việc triển khai thành công Đề án sẽ giúp tỉnh Phú Thọ giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động trình độ cao, hình thành đội ngũ nhân lực có khả năng làm chủ công nghệ mới, đáp ứng tốt nhu cầu của doanh nghiệp trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, góp phần xây dựng Phú Thọ trở thành trung tâm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của vùng Trung du và miền núi phía Bắc, hiện thực hóa khát vọng xây dựng một tỉnh Phú Thọ phồn vinh, hạnh phúc và phát triển bền vững, trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2045./.
Nguyễn Hoàng Nam
