Tăng cường công tác quản lý nhà nước, tạo động lực phát triển hạ tầng công nghiệp và thương mại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Trong bối cảnh tổ chức lại không gian phát triển mới sau hợp nhất, công tác quản lý nhà nước đối với phát triển khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN) và thương mại đóng vai trò quan trọng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh.

Khu công nghiệp Phú Hà do Tổng công ty Viglacera làm chủ đầu tư hạ tầng.

Kết luận phiên giải trình về công tác quản lý nhà nước đối với phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp và lĩnh vực thương mại trên địa bàn tỉnh. Thường trực HĐND tỉnh đã đánh giá các kết quả đạt được, chỉ ra những hạn chế, bất cập và đề ra các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo động lực phát triển hạ tầng công nghiệp và thương mại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới.

Công tác quản lý và phát triển khu công nghiệp

Tỉnh Phú Thọ quy hoạch 57 KCN với tổng diện tích khoảng 13.892,34 ha. Tính đến tháng 9/2026, toàn tỉnh có 32 KCN đã được thành lập với tổng diện tích 7.024,47 ha, trong đó 18 KCN đã đi vào hoạt động.

Các KCN đang hoạt động đã thu hút 854 dự án thứ cấp, bao gồm 527 dự án FDI với tổng vốn đầu tư 11.734,95 triệu USD và 327 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư 67.064,65 tỷ đồng. Diện tích đất công nghiệp và dịch vụ đã cho thuê đạt 2.044,21 ha trên tổng số 2.482,78 ha. Quỹ đất công nghiệp đã hoàn thiện hạ tầng sẵn sàng cho thuê còn lại là 438,58 ha.

18 KCN đi vào hoạt động đều được chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật đồng bộ (giao thông, thoát nước, cấp nước, chiếu sáng, cây xanh). Về hạ tầng bảo vệ môi trường, 15/18 KCN đang hoạt động đã có hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung. Ngoài ra, 14/25 KCN chưa thành lập đã được phê duyệt quy hoạch phân khu, tạo tiền đề giải phóng quỹ đất đón dòng vốn mới.

Công tác quản lý và phát triển cụm công nghiệp

Theo quy hoạch, tỉnh định hướng đến năm 2030 có 127 CCN và đến năm 2050 có 133 CCN. Toàn tỉnh đã thành lập 68 CCN (13 cụm do Nhà nước đầu tư, 55 cụm do doanh nghiệp làm chủ đầu tư). Trong đó, 32 cụm đã có doanh nghiệp hoạt động, thu hút khoảng 930 cơ sở sản xuất, kinh doanh, giải quyết việc làm cho 31.809 lao động. Tỷ lệ lấp đầy bình quân đạt 65,3% (651/996 ha đất công nghiệp).

Trong 9 tháng đầu năm 2026, tỉnh đã thành lập mới 05 CCN và đang tiến hành thẩm định hồ sơ thành lập 15 CCN. Việc bàn giao, tiếp nhận tài sản các CCN do Nhà nước đầu tư sau khi kết thúc hoạt động của chính quyền cấp huyện được triển khai kịp thời; Trung tâm Phát triển Công Thương đã tiếp nhận quản lý 10 CCN, 02 cụm làng nghề được tạm giao cho UBND cấp xã quản lý.

Công tác quản lý và phát triển lĩnh vực thương mại

Hoạt động thương mại và ngoại thương duy trì đà tăng trưởng, đóng góp tích cực vào cơ cấu kinh tế của tỉnh.

Trong 9 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 44,52 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 59,2 tỷ USD. Đến ngày 20/9/2026, Sở Công Thương đã tiếp nhận và xử lý 1.338 hồ sơ cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O).

Tỉnh đã ban hành đồng bộ các văn bản chỉ đạo gồm: Kế hoạch số 38/KH-UBND về phát triển dịch vụ logistics; Kế hoạch số 9067/KH-UBND về phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2026 – 2030; Kế hoạch số 146/KH-UBND về hội nhập quốc tế về kinh tế giai đoạn 2026 – 2030; Quyết định số 2947/QĐ-UBND về Chương trình “Vươn ra thị trường quốc tế giai đoạn 2026 – 2030”; Quyết định số 1533/QĐ-UBND về sản xuất và tiêu dùng bền vững giai đoạn 2026 – 2030.

Trong 9 tháng đầu năm 2026, tỉnh đã tổ chức 15 khu trưng bày sản phẩm tại các sự kiện trong và ngoài tỉnh; thực hiện 04 phiên livestream quảng bá 56 sản phẩm của 12 doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Lực lượng quản lý thị trường từ năm 2024 đến nay đã kiểm tra 19 vụ, xử lý 18 vụ vi phạm trên môi trường thương mại điện tử, xử phạt vi phạm hành chính 565,1 triệu đồng.

Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước

Để khắc phục các hạn chế, bất cập, Thường trực HĐND tỉnh đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ngành, địa phương tập trung thực hiện các nhóm giải pháp trọng tâm:

Chỉ đạo, điều hành và hoàn thiện thể chế:

UBND tỉnh chỉ đạo lập Kế hoạch chi tiết xử lý tồn tại cho từng KCN, CCN, chợ và từng nhóm dự án; phân công rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, thời hạn và sản phẩm đầu ra. Tổ chức rà soát tổng thể KCN, CCN, cảng cạn, hạ tầng thương mại, logistics trong không gian phát triển mới theo chiến lược “Ba hành lang – Một vành đai – Năm trục động lực”. Xác định thứ tự ưu tiên đầu tư dựa trên nhu cầu thực tế và khả năng cân đối nguồn lực, tránh đầu tư dàn trải. Xử lý dứt điểm các dự án chậm tiến độ kéo dài, chủ đầu tư không đủ năng lực theo đúng quy định pháp luật. Phối hợp chặt chẽ với ngành điện, nước để bảo đảm công suất cấp điện, cấp nước, thoát nước và giao thông kết nối cho các khu, cụm công nghiệp. Cân đối ngân sách trung hạn và hằng năm cho công tác bồi thường tái định cư, hạ tầng kết nối ngoài hàng rào khu, cụm công nghiệp, hạ tầng xã hội và hạ tầng môi trường. Ban hành các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tăng tỷ lệ nội địa hóa, tham gia chuỗi cung ứng và nâng cao giá trị gia tăng.

Phân công nhiệm vụ cụ thể các sở, ngành chuyên môn:

Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh hoàn thành phê duyệt quy hoạch phân khu xây dựng tỷ lệ 1/2.000 cho 100% KCN trong quy hoạch tỉnh; Tập trung đôn đốc 14 KCN đang xây dựng hạ tầng và chuẩn bị xây dựng. Đánh giá năng lực chủ đầu tư các dự án chậm tiến độ để đề xuất phương án xử lý; Yêu cầu các chủ đầu tư hạ tầng hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải tập trung và công trình bảo vệ môi trường tại các KCN chưa hoàn thành các hạng mục này; Phối hợp bố trí quỹ đất phát triển nhà ở công nhân, thiết chế văn hóa, y tế và đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý KCN.

Sở Công Thương phân loại, hoàn thiện cơ sở dữ liệu 68 CCN; tham mưu phương án xử lý cụ thể đối với 05 CCN chậm tiến độ, chủ đầu tư không đảm bảo năng lực và 02 CCN làng nghề có trạm xử lý nước thải xuống cấp. Phối hợp tháo gỡ vướng mắc hạ tầng ngoài hàng rào cho 09 CCN; kiểm tra, kiểm soát công tác xả thải tại các cụm đang hoạt động. Rà soát, xác định thứ tự ưu tiên đầu tư cho 13 vị trí trung tâm logistics. Phân loại và xử lý hệ thống 382 chợ. Tăng cường kiểm soát thương mại điện tử, chống hàng giả, hàng nhái, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên môi trường số.

Sở Nông nghiệp và Môi trường giải quyết các thủ tục đất đai, đền bù GPMB, kiểm tra xả thải và xử lý các cơ sở vi phạm môi trường. Sở Tài chính tham mưu nguồn lực đầu tư, hướng dẫn quản lý, xử lý tài sản công tại các CCN do Nhà nước đầu tư và hạ tầng chợ. Sở Xây dựng rà soát quy hoạch hạ tầng kỹ thuật, giao thông kết nối ngoài hàng rào, quy hoạch nhà ở xã hội, nhà ở công nhân và các thiết chế văn hóa. Sở Nội vụ đảm bảo cung ứng nguồn nhân lực đủ về số lượng, cao về chất lượng cho các doanh nghiệp theo Đề án phát triển nguồn nhân lực tỉnh giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn 2045.  UBND cấp xã, phường và đơn vị phát triển quỹ đất tập trung xử lý dứt điểm công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, tháo gỡ điểm nghẽn GPMB.

Nhiệm vụ của Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp

Trung tâm tiếp tục đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; chủ động tiếp cận, thu hút các nhà đầu tư hạ tầng KCN, CCN có năng lực tài chính, kinh nghiệm quản lý. Đồng thời, định hướng thu hút các dự án thứ cấp có công nghệ hiện đại, suất đầu tư cao, thân thiện với môi trường, góp phần gia tăng tỷ lệ lấp đầy tại các KCN, CCN. Hỗ trợ các nhà đầu tư tiếp cận nhanh chóng quỹ đất sạch (đặc biệt là 438,58 ha đất KCN đã hoàn thiện hạ tầng, sẵn sàng cho thuê), tối ưu hóa hiệu quả sử dụng đất, giảm thiểu tình trạng dự án chậm triển khai. Thực hiện tốt vai trò là đầu mối tiếp nhận, tổng hợp và hỗ trợ giải quyết các thủ tục hành chính, tháo gỡ vướng mắc cho nhà đầu tư trong suốt quá trình từ chuẩn bị đầu tư, triển khai dự án đến khi đi vào sản xuất, kinh doanh ổn định. Sự đồng hành này góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.

Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp trên sẽ nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước, tạo đột phá trong giải phóng các nguồn lực đất đai và hạ tầng, tạo điều kiện để các KCN, CCN và thương mại của tỉnh Phú Thọ phát triển bền vững, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội chung của tỉnh./.

Nguyễn Hoàng Nam