Tỉnh Phú Thọ mới sau tổ chức lại đơn vị hành chính cấp tỉnh có tổng diện tích tự nhiên 9.361,38 km², quy mô dân số khoảng 4,02 triệu người, hình thành cấu trúc không gian đô thị – công nghiệp – dịch vụ đa trung tâm và đa cực.

Thực trạng tồn tại hệ thống hạ tầng kỹ thuật hoạt động độc lập trước đây đã tạo ra các “điểm nghẽn” giao thông tại vùng giáp ranh, sự thiếu đồng bộ về tiêu chuẩn kỹ thuật và sự phân tán trong phân bổ nguồn lực. Nhằm kiến tạo khung hạ tầng đồng bộ và cụ thể hóa Quy hoạch tỉnh Phú Thọ thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ đã ban hành Quyết định số 2836/QĐ-UBND ngày 24/8/2026 phê duyệt Đề án “Phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật tỉnh Phú Thọ, giai đoạn 2026–2030” và Kế hoạch số 431/KH-UBND ngày 27/10/2026 tổ chức thực hiện Đề án.
Đề án đặt mục tiêu tổng quát là huy động tối đa các nguồn lực đầu tư hoàn thiện đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch; tăng cường năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu; bảo đảm tính kết nối liên thông nội tỉnh và liên vùng; đưa Phú Thọ trở thành một trong những cực tăng trưởng chủ đạo của vùng Thủ đô Hà Nội, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2026–2030.
Mục tiêu phát triển hạ tầng kỹ thuật đến năm 2030
Tập trung huy động mọi nguồn lực để đầu tư hoàn thiện và đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch và có lộ trình phù hợp, góp phần đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch kinh tế theo hướng xanh, hiện đại và bền vững. Xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật gắn với tăng cường năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu, có khả năng kết nối đồng bộ trong và ngoài tỉnh phục vụ kịp thời, hiệu quả cho người dân và doanh nghiệp. Phấn đấu đến năm 2030 Phú Thọ là một trong những cực tăng trưởng của vùng Thủ đô, có hệ thống hạ tầng từng bước đồng bộ, hiện đại, đến năm 2045 có hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại và phát triển.
– Về hạ tầng giao thông: Tập trung đầu tư, xây dựng và cải tạo, nâng cấp hệ thống giao thông theo quy hoạch; phấn đấu hoàn thiện khoảng 111 km đường cao tốc, 450 km đường tỉnh và nâng tỷ lệ đường giao thông nông thôn được đầu tư đạt yêu cầu lên 95%; công bố, đưa vào khai thác khoảng 54 km tuyến đường thủy nội địa; phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành Trung ương triển khai dự án tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng đoạn qua địa bàn tỉnh.
– Về hạ tầng cấp nước sạch: Phấn đấu đến năm 2030 có 100% dân số đô thị được cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung; 95% dân số nông thôn sử dụng nước sạch đáp ứng quy chuẩn, từng bước nâng cao chất lượng, độ an toàn và khả năng cấp nước ổn định cho người dân và các hoạt động sản xuất, kinh doanh.
– Về hạ tầng thoát nước và chống ngập: Tập trung đầu tư, cải tạo, mở rộng hệ thống thoát nước mưa, các công trình đầu mối và công trình phòng, chống ngập úng; phấn đấu đến năm 2030 mở rộng phạm vi phục vụ của hệ thống thoát nước mưa tại các đô thị đạt khoảng 80%.
– Về hạ tầng thu gom và xử lý nước thải: Tập trung phát triển hệ thống thu gom, xử lý nước thải tại các đô thị, khu dân cư và các khu vực có nguy cơ ô nhiễm; phấn đấu tỷ lệ nước thải được thu gom, xử lý đạt quy chuẩn khoảng 30 – 40%; 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn.
– Về hạ tầng thu gom, xử lý chất thải rắn: Từng bước hoàn thiện hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt theo hướng hiện đại, giảm chôn lấp, tăng cường tái chế, tái sử dụng; phấn đấu đến năm 2030, 100% chất thải rắn sinh hoạt khu vực đô thị và 85% khu vực nông thôn được thu gom, xử lý theo quy định.
– Về hạ tầng thông tin và truyền thông: Phát triển hạ tầng viễn thông, hạ tầng số đồng bộ, hiện đại, an toàn; phấn đấu đến năm 2030 độ phủ sóng 5G đạt 99%, 100% khả năng truy nhập cáp quang với tốc độ từ 1 Gb/s trở lên, tỷ lệ sử dụng IPv6 đạt 90%; xây dựng 01 Trung tâm dữ liệu số đa mục tiêu cấp vùng trên địa bàn tỉnh, đáp ứng yêu cầu phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.
– Về hạ tầng cấp điện: Phát triển hệ thống nguồn và lưới điện đồng bộ, bảo đảm đáp ứng nhu cầu phụ tải phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các khu vực phát triển mới; phấn đấu đáp ứng tốc độ tăng trưởng phụ tải điện 12 – 15%/năm, công suất cực đại khoảng 4.191 MW; xây dựng mới, cải tạo khoảng 2.390,5 km đường dây trung thế và 3.639,57 km đường dây hạ thế.
– Về hạ tầng nghĩa trang, nhà tang lễ và cơ sở hỏa táng: Từng bước xây dựng, cải tạo, nâng cấp hệ thống nghĩa trang, nhà tang lễ và cơ sở hỏa táng theo quy hoạch; hạn chế phát sinh các nghĩa trang nhỏ lẻ, phân tán; ưu tiên phát triển các công trình tập trung, bảo đảm yêu cầu về môi trường, cảnh quan và sử dụng hiệu quả quỹ đất. Nâng cấp, mở rộng 09 nghĩa trang cấp vùng và hoàn thiện, xây dựng mới 05 nhà tang lễ.
Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư
Để thực hiện danh mục các dự án ưu tiên đầu tư trong giai đoạn 2026–2030, Đề án tính toán tổng nhu cầu vốn sơ bộ là 130.052 tỷ đồng. Cơ cấu nguồn vốn được phân bổ cân đối giữa khu vực Nhà nước và nguồn vốn xã hội hóa:
- Vốn ngân sách nhà nước (NSNN): 65.058 tỷ đồng (chiếm 50,02% tổng nguồn vốn), trong đó dự kiến đề nghị ngân sách trung ương hỗ trợ khoảng 35.429,7 tỷ đồng phục vụ các công trình giao thông kết nối liên vùng trọng điểm.
- Các nguồn vốn huy động hợp pháp khác (PPP, doanh nghiệp, xã hội hóa, ODA…): 64.994 tỷ đồng (chiếm 49,98% tổng nguồn vốn).
Để bảo đảm tính khả thi trong việc huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn trên, tỉnh Phú Thọ tập trung triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp đột phá:
- Cải thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả đầu tư công: Cụ thể hóa mô hình quản lý chính quyền địa phương hai cấp (tỉnh – xã); thực hiện phân cấp, phân quyền triệt để trong quản lý, đầu tư và vận hành hạ tầng. Tập trung nguồn vốn ngân sách nhà nước cho các dự án hạ tầng khung thiết yếu, có tính chất mở đường, dẫn dắt và tạo động lực lan tỏa. Nâng cao trách nhiệm, chống lãng phí, loại bỏ các dự án dàn trải, ưu tiên vốn cho các công trình chuyển tiếp và dự án giải quyết điểm nghẽn cấp bách.
- Thúc đẩy phương thức đối tác công tư (PPP) và thu hút vốn ngoài ngân sách: Công khai, minh bạch danh mục dự án ưu tiên đầu tư theo hình thức PPP. Áp dụng cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý về doanh thu và giải phóng mặt bằng giữa Nhà nước và nhà đầu tư. Thực hiện chính sách giao “đất sạch” cho các dự án PPP; áp dụng ưu đãi tối đa về thuế, tiền thuê đất đối với các dự án hạ tầng xử lý môi trường (rác thải, nước thải) và năng lượng tái tạo. Nghiên cứu khai thác quỹ đất phụ trợ dọc các trục giao thông động lực theo mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD) để tạo nguồn thu bồi hoàn chi phí xây dựng.
- Cải cách thủ tục hành chính và đẩy nhanh giải phóng mặt bằng: Thiết lập cơ chế “luồng xanh” trong xử lý thủ tục đầu tư; cắt giảm từ 30% đến 50% thời gian thẩm định thiết kế, cấp phép xây dựng, đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và giao đất đối với các dự án hạ tầng trọng điểm. Áp dụng khung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thỏa đáng, công khai, nhằm đẩy nhanh tiến độ bàn giao mặt bằng.
- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số: Tích hợp công nghệ mô hình hóa thông tin công trình (BIM), hệ thống thông tin địa lý (GIS), Internet vạn vật (IoT) và hệ thống giao thông thông minh (ITS) vào toàn bộ quá trình quy hoạch, thiết kế, thi công, quản lý và vận hành hạ tầng. Xây dựng cơ sở dữ liệu số dùng chung toàn tỉnh về hạ tầng kỹ thuật để quản lý tài sản công khai, hiệu quả.
- Tăng cường liên kết vùng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Chủ động phối hợp với các bộ, ngành Trung ương và các tỉnh trong vùng Thủ đô, vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng Trung du và miền núi phía Bắc để thống nhất quy hoạch hướng tuyến, tiêu chuẩn kỹ thuật và tiến độ đầu tư các công trình kết nối liên tỉnh. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ quản lý dự án, đáp ứng yêu cầu quản lý các công trình hạ tầng quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp trong bối cảnh chuyển đổi số.
Đề án “Phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật tỉnh Phú Thọ, giai đoạn 2026–2030” có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình tái cấu trúc không gian phát triển của tỉnh Phú Thọ mới sau hợp nhất. Đề án không chỉ giải quyết triệt để các “điểm nghẽn” về hạ tầng hiện hữu mà còn định hình một khung hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, hiện đại, thích ứng với biến đổi khí hậu và kết nối liên thông. Việc xác định rõ mục tiêu, hệ thống chỉ tiêu cụ thể, danh mục dự án ưu tiên cùng bài toán cân đối nguồn vốn là cơ sở để các cấp, các ngành trong tỉnh chủ động tổ chức thực hiện.
Với quyết tâm chính trị cao, sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước và sự tham gia tích cực của cộng đồng doanh nghiệp, Đề án sẽ tạo động lực bứt phá mạnh mẽ, đưa Phú Thọ trở thành một cực tăng trưởng năng động, hiện đại của vùng Thủ đô Hà Nội, hướng tới mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương./.
Nguyễn Hoàng Nam
