Các quy định và các điểm mới trong chính sách phát triển kinh tế tập thể

Phát triển kinh tế tập thể, nòng cốt là các tổ hợp tác, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã, là một chủ trương lớn, xuyên suốt và nhất quán của Đảng và Nhà nước. Khu vực kinh tế tập thể không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là tại khu vực nông nghiệp, nông thôn, mà còn góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và bảo đảm an sinh xã hội.

Long Cốc – điểm đến hấp dẫn với cảnh quan đồi chè đặc trưng và tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng. Ảnh: baophutho.vn

Luật Hợp tác xã số 17/2023/QH15, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2024, tạo khuôn khổ pháp lý toàn diện, đồng bộ về kinh tế tập thể, đồng thời quy định chi tiết các chính sách hỗ trợ của Nhà nước nhằm phát triển thành phần kinh tế kinh tế tập thể. Tiếp tục quá trình hoàn thiện thể chế, nhằm hướng dẫn thi hành luật và cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, Chính phủ đã ban hành các Nghị định, có hiệu lực từ ngày 23 tháng 7 năm 2026: Nghị định số 294/2026/NĐ-CP quy định về tổ hợp tác; Nghị định số 295/2026/NĐ-CP quy định về đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; và Nghị định số 296/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định về đăng ký doanh nghiệp.

Nguyên tắc và tiêu chí ưu tiên hỗ trợ

Luật Hợp tác xã quy định Chính sách phát triển tổ hợp tác (THT), hợp tác xã (HTX), liên hiệp hợp tác xã (LHHTX) đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch về nội dung, đối tượng, trình tự, thủ tục, nguồn lực, mức hỗ trợ và kết quả thực hiện, đáp ứng các tiêu chí ưu tiên: Phát triển gắn với chuỗi giá trị, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức, nông nghiệp hữu cơ, thích ứng biến đổi khí hậu; Ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; Sử dụng nhiều lao động nữ, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số hoặc hoạt động tại các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn.

Các nhóm chính sách hỗ trợ

Luật Hợp tác xã quy định 9 nhóm chính sách cụ thể để thúc đẩy khu vực kinh tế tập thể:

Chính sách phát triển nguồn nhân lực, thông tin, tư vấn: Hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề, nâng cao năng lực cho thành viên và người lao động của THT, HTX, LHHTX; cung cấp thông tin về pháp luật, kinh tế, kỹ thuật; hỗ trợ tư vấn thành lập, chuyển đổi tổ chức và xây dựng mạng lưới cung cấp dịch vụ tư vấn.

Chính sách đất đai:  Ưu tiên bố trí quỹ đất; hỗ trợ giao đất, cho thuê đất để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh.  Miễn, giảm tiền thuê đất, thuê đất có mặt nước.

Chính sách thuế, phí và lệ phí: Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế, phí, lệ phí khác theo quy định pháp luật. Miễn hoàn toàn lệ phí đăng ký kinh doanh đối với THT. Đặc biệt, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần thu nhập hình thành quỹ chung không chia.

Chính sách tiếp cận vốn, bảo hiểm: Được vay vốn ưu đãi, hỗ trợ lãi suất, bảo lãnh tín dụng từ các tổ chức tín dụng và Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã.

Chính sách tiếp cận vốn, bảo hiểm: Được vay vốn ưu đãi, hỗ trợ lãi suất, bảo lãnh tín dụng từ các tổ chức tín dụng và Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã. Nhà nước hỗ trợ phí bảo hiểm tài sản chung và bảo hiểm con người cho các thành viên THT, HTX, LHHTX. Ưu tiên, hỗ trợ tham gia hoạt động xúc tiến đầu tư của các bộ, ngành, địa phương.

Chính sách ứng dụng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Hỗ trợ chi phí tư vấn, chuyển giao công nghệ; hỗ trợ xây dựng trang thông tin điện tử; Hỗ trợ đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất dựa trên nền tảng khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo; xây dựng mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải khí nhà kính; Hỗ trợ đổi mới công nghệ, tiếp nhận, cải tiến, hoàn thiện, làm chủ công nghệ thông qua các hoạt động nghiên cứu, đào tạo, tư vấn, tìm kiếm, giải mã, chuyển giao công nghệ; xác lập, quản lý, khai thác, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ.

Chính sách tiếp cận và nghiên cứu thị trường: Hỗ trợ thông tin khảo sát thị trường; Tư vấn xây dựng và bảo vệ thương hiệu; Hỗ trợ tham gia hội chợ, triển lãm trong và ngoài nước; Ưu tiên, hỗ trợ tham gia hoạt động xúc tiến thương mại của các bộ, ngành, địa phương.

Chính sách đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, trang thiết bị: Hỗ trợ đầu tư xây dựng, chuyển giao các công trình kết cấu hạ tầng cho THT, HTX, LHHTX theo quy định của pháp luật.

Chính sách hỗ trợ tư vấn tài chính và đánh giá rủi ro: Hỗ trợ chi phí kiểm toán cho hợp tác xã quy mô siêu nhỏ và nhỏ khi được hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước theo quy định; Hỗ trợ tổ chức đại diện, hệ thống Liên minh hợp tác xã Việt Nam trong việc thực hiện đánh giá rủi ro, tư vấn tài chính; tư vấn kiểm soát nội bộ, tư vấn kiểm toán nội bộ cho tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.

Chính sách hỗ trợ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp: Hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm; Hỗ trợ vốn, giống, khoa học và công nghệ khi tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã chuyển đổi sang sản xuất bền vững, nông nghiệp hữu cơ, thích ứng với biến đổi khí hậu; Hỗ trợ chi phí xây dựng kết cấu hạ tầng vùng nguyên liệu khi tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất hoặc thuê đất, đất có mặt nước của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để hình thành vùng nguyên liệu sản xuất nông nghiệp tập trung.

Các điểm mới về tổ hợp tác tại Nghị định số 294/2026/NĐ-CP

Nghị định 294/2026/NĐ-CP bao gồm 06 Chương và 38 Điều, quy định về việc thành lập, tổ chức, hoạt động, chấm dứt hoạt động của tổ hợp tác; cùng với đó là các chính sách của Nhà nước đối với việc phát triển tổ hợp tác với các điểm mới:

– Bổ sung khái niệm về phần đóng góp của thành viên tổ hợp tác; tổ hợp tác có đăng ký và tổ hợp tác không đăng ký, đồng thời chuẩn hóa khái niệm về bản sao, bản chính các giấy tờ liên quan đến hoạt động của tổ hợp tác.

– Bổ sung 01 Chương riêng biệt (Chương II) quy định toàn diện về Chính sách của nhà nước về phát triển tổ hợp tác. Trong Chương này, pháp luật quy định chi tiết về các nguyên tắc thực hiện chính sách, các tiêu chí thụ hưởng chính sách, nội dung các chính sách hỗ trợ cụ thể và đặc biệt là chính sách hỗ trợ các tổ hợp tác trong quá trình phát triển thành hợp tác xã.

– Nhằm bảo đảm tính đồng bộ với Kế hoạch hành động quốc gia về thực hiện nghĩa vụ của Chính phủ Việt Nam đối với việc trao đổi thông tin theo yêu cầu vì mục đích thuế (được ban hành kèm theo Quyết định số 948/QĐ-TTg ngày 27/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ), Nghị định 294 đã bổ sung một loạt các quy định chặt chẽ. Cụ thể: bổ sung quy định về thông báo thay đổi thành viên tổ hợp tác tại điểm đ khoản 1 Điều 18; sửa đổi thông tin tại biểu mẫu thông báo thành lập/thay đổi tổ hợp tác không đăng ký (Mẫu số 1) và mẫu hợp đồng hợp tác (Mẫu số 2). Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 21 và Điều 31 quy định trách nhiệm lập từ ngày thành lập, cập nhật, lưu giữ, bảo quản sổ ghi chép về việc đóng góp của thành viên tổ hợp tác. Khoản 6 Điều 36 đặt ra trách nhiệm lưu trữ thông tin về thành viên tổ hợp tác trong vòng 06 năm kể từ ngày tổ hợp tác chấm dứt hoạt động.

– Bổ sung các quy định nhằm xác định chính xác thời điểm xác lập tư cách thành viên và xác lập thời điểm thành lập tổ hợp tác. Bổ sung các quy định để phân định rõ thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước, bảo đảm sự phù hợp, đồng bộ với Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.

– Phân định quy trình quản lý đối với 02 loại hình tổ hợp tác nhằm làm rõ các hồ sơ, trình tự, thủ tục thành lập, hoạt động, tạm ngừng và chấm dứt hoạt động. Theo đó, đối với tổ hợp tác có đăng ký (quy định tại khoản 5 Điều 3), trình tự, thủ tục sẽ được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 295/2026/NĐ-CP ngày 23/7/2026. Ngược lại, đối với tổ hợp tác không đăng ký (quy định tại khoản 6 Điều 3), hồ sơ và thủ tục sẽ được thực hiện trực tiếp theo quy định tại Nghị định số 294/2026/NĐ-CP.

Các điểm mới về đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tại Nghị định số 295/2026/NĐ-CP

Nghị định số 295/2026/NĐ-CP thay thế cho Nghị định số 92/2024/NĐ-CP ngày 18/7/2024, với các điểm mới như sau:

Điều 4, Nghị định bổ sung quy định cho phép người đại diện tổ hợp tác hoặc người được ủy quyền đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác có quyền tự do lựa chọn nộp hồ sơ và nhận kết quả tại bất kỳ cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã nào trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi đặt trụ sở chính. Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã nơi tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã  đặt trụ sở chính sẽ là cơ quan có thẩm quyền xử lý, giải quyết thủ tục đăng ký. Đồng thời, Điều 4 bổ sung quy định về việc không yêu cầu nộp bản sao các thành phần hồ sơ trong trường hợp dữ liệu, thông tin đã được khai thác, sử dụng từ các cơ sở dữ liệu.

Điều 5 quy định rõ cơ quan đăng ký kinh doanh giải quyết thủ tục là phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã có chức năng, nhiệm vụ đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với trường hợp đơn vị hành chính cấp xã thành lập phòng chuyên môn. Trong trường hợp đơn vị hành chính cấp xã không thành lập phòng chuyên môn, cơ quan giải quyết thủ tục là Ủy ban nhân dân cấp xã.

Nhằm phục vụ công tác quản lý thông tin, các Điều 7, 51 và 64 bổ sung thành phần hồ sơ giải thể đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã bao gồm bản sao sổ đăng ký thành viên chính thức, thành viên liên kết góp vốn, thành viên liên kết không góp vốn. Đối với hồ sơ thông báo chấm dứt hoạt động tổ hợp tác, bổ sung yêu cầu bản sao sổ ghi chép về việc đóng góp của thành viên tổ hợp tác. Các điều khoản này cũng bổ sung trách nhiệm của cơ quan đăng ký kinh doanh trong việc cập nhật, lưu trữ thông tin về thành viên trong Cơ sở dữ liệu về đăng ký hợp tác xã trong thời hạn 06 năm kể từ ngày tổ chức giải thể, chấm dứt hoạt động.

Điều 12 bổ sung quy định mang tính công nghệ cao: yêu cầu xác thực điện tử đối với người ủy quyền và người được ủy quyền khi ủy quyền thực hiện các thủ tục: đăng ký thành lập; đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật; thông báo thay đổi thông tin về thành viên chính thức, thành viên liên kết góp vốn là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, cá nhân là nhà đầu tư nước ngoài; đăng ký thay đổi thành viên tổ hợp tác.

Điều 31 tiếp tục hoàn thiện các quy định về nghiệp vụ đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã qua mạng thông tin điện tử.

Điều 40 bổ sung quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, hông báo thay đổi nội dung đăng ký dựa trên bản án của Tòa án hoặc phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật.

Đối với việc tạm ngừng kinh doanh, các Điều 48, 63 và 68 bổ sung quy định khống chế tổng thời gian tối đa tạm ngừng kinh doanh không quá 24 tháng. Nghị định quy định chi tiết việc chuyển tiếp đối với các tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đã thông báo tạm ngừng kinh doanh trước ngày Nghị định 295 có hiệu lực thi hành. Đồng thời, bổ sung cơ chế xác nhận việc tiếp tục kinh doanh trở lại của tổ chức sau khi kết thúc thời hạn đăng ký tạm ngừng kinh doanh đã thông báo.

Điều 58 sửa đổi, bổ sung quy trình chuyển tình trạng pháp lý, quá trình đình chỉ thủ tục phá sản, cũng như việc hủy quyết định tuyên bố hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phá sản nhằm bảo đảm tính đồng bộ, phù hợp với các quy định tại Luật Phục hồi, phá sản.

Điều 61 tiến hành bổ sung thủ tục đăng ký thay đổi thành viên tổ hợp tác, đồng thời bãi bỏ thủ tục đăng ký thay đổi người đại diện tổ hợp tác.

Điều 66 bổ sung các quy định chặt chẽ về chủ sở hữu hưởng lợi của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, phục vụ công tác minh bạch hóa thông tin chủ thể kinh tế.

Nghị định chính thức bãi bỏ Phụ lục và các Biểu mẫu kèm theo Nghị định số 92/2024/NĐ-CP trước đây. Hệ thống biểu mẫu về đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nay sẽ thực hiện theo quy định tại Thông tư số 43/2025/TT-BTC ngày 17/6/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành biểu mẫu sử dụng trong lĩnh vực quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khi tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp.

Các sửa đổi, bổ sung quy định về đăng ký doanh nghiệp tại Nghị định số 296/2026/NĐ-CP

Khoản 1 Điều 1 bổ sung quy định không yêu cầu nộp bản sao các thành phần hồ sơ khi đã khai thác đầy đủ, chính xác thông tin từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác. Điều này cũng quy định rõ nguyên tắc áp dụng giải quyết thủ tục đăng ký doanh nghiệp đối với công ty TNHH một thành viên do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Điều 2, hoàn thiện quy định về việc yêu cầu xác thực điện tử đối với người ủy quyền và người được ủy quyền khi thực hiện các thủ tục: đăng ký thành lập doanh nghiệp; đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật; thông tin chủ sở hữu, thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn; thông tin cổ đông sáng lập, cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài của công ty cổ phần không phải là công ty niêm yết và công ty đăng ký giao dịch chứng khoán; chủ doanh nghiệp tư nhân; thành viên hợp danh.

Điều 3 và Điều 4 sửa đổi, bổ sung quy định làm rõ về khái niệm chủ sở hữu hưởng lợi và quy trình kê khai, thông báo thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp.

Điều 5 sửa đổi, hoàn thiện quy định về thẩm quyền của cơ quan đăng ký kinh doanh trong việc giải quyết thủ tục đăng ký hộ kinh doanh. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết là phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã có chức năng, nhiệm vụ đăng ký hộ kinh doanh theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (áp dụng cho trường hợp đơn vị hành chính cấp xã thành lập phòng chuyên môn), hoặc là Ủy ban nhân dân cấp xã (áp dụng cho trường hợp đơn vị hành chính cấp xã không thành lập phòng chuyên môn).

Điều 6 và Điều 13 hoàn thiện quy định về trình tự, thủ tục giải thể đối với công ty cổ phần không phải là công ty niêm yết và công ty đăng ký giao dịch chứng khoán. Quy định rõ trách nhiệm của cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh trong việc cập nhật, lưu giữ thông tin về cổ đông của các công ty này sau khi các công ty tiến hành giải thể.

Điều 7 sửa đổi quy định về hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp nhằm bảo đảm sự thống nhất và đồng bộ với các quy định mới tại Luật Đầu tư năm 2025.

Điều 9 tiếp tục hoàn thiện các quy định về đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử.

Điều 11 và Điều 21 bổ sung quy định về tổng thời gian tối đa tạm ngừng kinh doanh của doanh nghiệp không quá 24 tháng; quy định rõ nghĩa vụ đăng ký thay đổi, thông báo thay đổi trong thời hạn tạm ngừng và cơ chế xác nhận việc tiếp tục kinh doanh trở lại. Đồng thời, quy định chuyển tiếp đối với các doanh nghiệp đã thông báo tạm ngừng trước ngày Nghị định 296 có hiệu lực thi hành.

Điều 14 sửa đổi, bổ sung quy định về tình trạng pháp lý của doanh nghiệp nhằm bảo đảm tính tương thích, phù hợp với các quy định tại Luật Phục hồi, phá sản.

Điều 19, thực hiện cắt giảm thành phần hồ sơ đăng ký doanh nghiệp (cắt giảm danh sách người đại diện theo ủy quyền). Đáng chú ý nhất trong công tác cải cách thủ tục hành chính, Nghị định đã cắt giảm thời gian xử lý từ 03 ngày làm việc xuống chỉ còn 02 ngày làm việc đối với một số thủ tục: dừng thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp, hộ kinh doanh; đăng ký thay đổi địa chỉ của đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp; chấm dứt hoạt động địa điểm kinh doanh; hiệu đính thông tin đăng ký doanh nghiệp, hộ kinh doanh.

Luật Hợp tác xã số 17/2023/QH15 và các Nghị định 294/2026/NĐ-CP, 295/2026/NĐ-CP, 296/2026/NĐ-CP với các điểm mới trong quản lý, đơn giản hóa thủ tục hành chính, số hóa dữ liệu, lấy người dân và các tổ chức kinh tế làm trung tâm phục vụ. Những quy định mới này sẽ giúp gỡ bỏ rào cản, tạo điều kiện thuận lợi để tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phát triển, đóng góp xứng đáng vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong giai đoạn mới./.

Nguyễn Hoàng Nam