Quá trình triển khai thực hiện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Phú Thọ sau khi hợp nhất từ 3 tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình cũ diễn ra với bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước ổn định, lạm phát được kiểm soát và các chính sách thể chế ngày càng hoàn thiện. Mặc dù bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, chiến tranh thương mại và sự thay đổi chính sách thuế của các nước lớn tạo ra không ít thách thức. Với sự chỉ đạo quyết liệt từ các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương với các chính sách thiết thực, đã tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, an toàn, chi phí thấp, khơi thông nguồn vốn ngoài nhà nước và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Khu vực kinh tế ngoài nhà nước đã đóng góp tích cực, với tỷ trọng khoảng 44,5% vào tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh những kết quả đạt được, còn tồn tại những hạn chế cần khắc phục nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh.

Theo Báo cáo số 310/BC-UBND ngày 24/7/2026 của UBND tỉnh Phú Thọ về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; đề xuất, kiến nghị sửa đổi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho thấy thực trạng phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn từ năm 2021 đến 2025 có sự tăng trưởng vượt bậc về số lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường cũng như quy mô vốn đăng ký so với giai đoạn trước. Toàn tỉnh đã ghi nhận 16.271 doanh nghiệp thành lập mới. Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn thị trường trải qua sự biến động và sàng lọc khắc nghiệt, thể hiện qua con số 2.453 doanh nghiệp giải thể và 4.645 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh. Tính đến giữa năm 2026, trên địa bàn tỉnh có 41.390 doanh nghiệp, trong đó khoảng 30.750 doanh nghiệp đang hoạt động thường xuyên. Mật độ doanh nghiệp đạt mức 5,2 doanh nghiệp/1.000 dân. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2026, đã có 2.710 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký lên tới 31.529,7 tỷ đồng, cùng với 651 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Với tỷ trọng chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp đăng ký, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đã khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng chính. Dù vậy, một số hạn chế nội tại vẫn hiện hữu khi nhiều doanh nghiệp phát triển thiếu tính bền vững, khả năng chống chọi với rủi ro thị trường còn yếu, tỷ lệ ứng dụng công nghệ số và mức độ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu còn khiêm tốn.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc đồng hành cùng doanh nghiệp, công tác quản lý nhà nước về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ cụ thể hóa thông qua hàng loạt chính sách, đề án và quy định chặt chẽ. Cơ quan chuyên môn là Sở Tài chính (trước đây là Sở Kế hoạch và Đầu tư), đã đóng vai trò cơ quan chủ trì tham mưu đắc lực. Cùng với đó là sự phối hợp đồng bộ của các sở, ban, ngành, các cấp chính quyền địa phương và Hiệp hội doanh nghiệp. UBND tỉnh tỉnh đã phân bổ nguồn lực từ ngân sách trung ương và của tỉnh một cách minh bạch, có trọng tâm trọng điểm. Để lắng nghe tiếng nói của doanh nghiệp, tỉnh đã thiết lập cơ chế đối thoại thường xuyên. Điển hình như các Chương trình đối thoại trực tiếp và mô hình “Cà phê doanh nhân”, qua đó kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn sản xuất kinh doanh. Việc thiết lập đường dây nóng tại các cơ quan hành chính đã tạo ra kênh thông tin thông suốt, giúp giải đáp nhanh chóng các kiến nghị về thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư.
Một trong những kết quả nổi bật nhất trong quá trình thực hiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tại tỉnh Phú Thọ là việc khơi thông nguồn vốn tín dụng và giảm gánh nặng tài chính. Dưới sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 4 đã triển khai linh hoạt các cơ chế chính sách tiền tệ. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn đã chủ động điều hướng nguồn vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chương trình kết nối ngân hàng và doanh nghiệp được duy trì xuyên suốt, đem lại cam kết tín dụng lên tới 16.067 tỷ đồng chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026, hỗ trợ trực tiếp cho 873 doanh nghiệp. Tổng dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn trong giai đoạn 2021 – 2025 và 6 tháng đầu 2026 đạt 69.665 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 9,7%/năm. Bên cạnh nỗ lực về tín dụng, các chính sách hỗ trợ thuế, phí cũng được triển khai toàn diện. Việc áp dụng các biện pháp giảm 50% thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu, giảm 30% tiền thuê đất, giảm 2% thuế suất thuế giá trị gia tăng cùng hàng loạt các ưu đãi cắt giảm 50% đối với 36 khoản phí, lệ phí khác đã đóng vai trò như một gói kích cầu thiết thực.
Nhằm giải quyết bài toán khó khăn về không gian sản xuất, tỉnh Phú Thọ đã nỗ lực phát triển mạnh mẽ quỹ đất công nghiệp. Toàn tỉnh hiện có 28 khu công nghiệp với tổng quy mô sử dụng đất 5.832,49 ha, trong đó 17 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với tỷ lệ lấp đầy đạt 47,12%. Hệ thống 67 cụm công nghiệp với tổng diện tích 3.108 ha cũng được chú trọng đầu tư, thu hút 930 dự án thứ cấp và tạo việc làm cho trên 37.000 lao động. Chính quyền địa phương đã thực hiện nghiêm túc chính sách miễn giảm tiền thuê đất, hỗ trợ giảm tối thiểu 30% tiền thuê lại đất trong vòng 5 năm đầu tiên đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư vào khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Quá trình này đã góp phần gia tăng tỷ lệ quan tâm đầu tư của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vào khu công nghiệp lên tới 20% – 30% so với các năm trước. Định hướng quy hoạch mở rộng hàng nghìn héc ta quỹ đất công nghiệp (đến năm 2030 là 13.380 ha) trong thời gian tới tiếp tục khẳng định cam kết của tỉnh trong việc cung cấp mặt bằng sạch.
Sự thích ứng với thời đại kinh tế số được phản ánh rõ nét qua kết quả hỗ trợ công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tỉnh đã dành ngân sách 29,04 tỷ đồng để hỗ trợ kinh phí cho 78 dự án đổi mới công nghệ, giúp doanh nghiệp áp dụng các dây chuyền sản xuất tiên tiến, tối ưu hóa năng suất. Sự hình thành của 18 doanh nghiệp khoa học và công nghệ là minh chứng cho một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đang dần định hình. Hàng loạt doanh nghiệp đã được tư vấn áp dụng các tiêu chuẩn quản lý quốc tế, xây dựng và công bố hơn 1.300 tiêu chuẩn cơ sở, kích hoạt gần 8 triệu tem truy xuất nguồn gốc. Về phương diện mở rộng thị trường, thông qua các gói tài trợ duy trì tài khoản trên nền tảng thương mại điện tử, hỗ trợ kinh phí thiết kế gian hàng, các doanh nghiệp địa phương đã có cơ hội tiếp cận trực tiếp với thị trường quốc tế như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc.
Việc triển khai các chính sách hỗ trợ trọng tâm tiếp tục được thực hiện với sự tập trung vào đối tượng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh và doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ. Dù đối mặt với những khó khăn về động lực chuyển đổi, chính quyền tỉnh đã nỗ lực hỗ trợ 56 hộ kinh doanh hoàn thành quá trình chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp, giúp họ từng bước chuẩn hóa hoạt động sản xuất kinh doanh. Cùng với đó, các hoạt động bồi dưỡng kỹ năng quản trị doanh nghiệp, quy hoạch nguồn nhân lực và xây dựng chiến lược phát triển thị trường đã được triển khai sâu rộng. Tiêu biểu có thể kể đến sự thành công của các dự án công nghệ dược liệu kết nối chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học và ứng dụng thực tiễn sản xuất. Công tác giáo dục nghề nghiệp được đẩy mạnh thông qua hệ thống 51 cơ sở đào tạo, đáp ứng quy mô tuyển sinh khoảng 51.550 học viên/năm, đảm bảo cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cho sự phát triển dài hạn.
Mặc dù đã gặt hái được những thành tựu đáng ghi nhận, quá trình triển khai chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Phú Thọ vẫn bộc lộ một số tồn tại và điểm nghẽn. Sự khác biệt về định mức và quy trình thực hiện giữa 3 địa phương trước khi sáp nhập đã tạo ra những thách thức trong việc đồng bộ hóa khung chính sách chung. Thực tiễn áp dụng các quy định tại Thông tư 06/2022/TT-BKHĐT và Thông tư 52/2023/TT-BTC còn gặp khó khăn do một số nội dung chưa thực sự cụ thể hóa, gây lúng túng trong quá trình giải ngân và tổ chức thực hiện. Kinh phí hỗ trợ từ ngân sách còn hạn hẹp, dẫn đến mức chi trả cho các hoạt động như xúc tiến thương mại quốc tế hoặc duy trì tài khoản thương mại điện tử còn thấp. Đặc biệt, bản thân phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn vẫn tồn tại quy mô manh mún, hạn chế về năng lực tài chính và trình độ quản trị. Quá trình chuyển đổi số, đổi mới công nghệ chưa đồng đều và sự chủ động trong việc tìm kiếm, tiếp cận các chính sách ưu đãi của nhà nước chưa cao, khiến tỷ lệ thụ hưởng chính sách chưa đạt được như kỳ vọng.
Đứng trước bối cảnh thực tiễn đó, nhằm tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cộng đồng doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước tỉnh Phú Thọ đã kiến nghị nhiều giải pháp gửi đến Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan. Cần thiết phải có sự nghiên cứu, tham mưu sửa đổi Luật nhằm kéo dài thời gian hỗ trợ đối với các hộ kinh doanh chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp, đặc biệt là bổ sung cơ chế hỗ trợ chi phí tuân thủ pháp luật ban đầu về kế toán, thuế và bảo hiểm xã hội. Đồng thời, pháp luật cần bổ sung quy định nguyên tắc miễn trừ trách nhiệm hành chính, tài chính hoặc hình sự đối với những doanh nghiệp đã tham gia chính sách và tuân thủ đúng quy trình, hướng dẫn của cơ quan nhà nước, qua đó hạn chế thanh tra, kiểm tra chồng chéo. Bộ Tài chính cũng cần sớm ban hành tài liệu hướng dẫn quy trình chi tiết, giảm bớt các tiêu chí khắt khe trong việc xác định doanh nghiệp tham gia cụm liên kết ngành. Đáng chú ý, việc điều chỉnh thuật ngữ pháp lý từ “sàn thương mại quốc tế” sang “sàn thương mại nước ngoài” sẽ tạo thuận lợi cho việc cấp kinh phí hỗ trợ, đồng thời cần tái cấu trúc dòng vốn tập trung vào các lĩnh vực mang tính đột phá như chuyển đổi số, đổi mới công nghệ.
Đánh giá kết quả đạt được, kịp thời nhận diện những bất cập và chủ động đề xuất sửa đổi, hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thể hiện tinh thần đồng hành xuyên suốt của chính quyền tỉnh Phú Thọ. Khi các cơ chế được điều chỉnh linh hoạt, sát với thực tiễn và nhu cầu phát triển doanh nghiệp trong bối cảnh mới, hiệu quả mang lại sẽ vượt ra ngoài những con số tăng trưởng cơ học. Hệ thống chính sách kiến tạo, tháo gỡ các rào cản pháp lý, khơi thông nguồn lực, sẽ tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp nâng cao năng lực nội sinh và hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Sự tương thích giữa chính sách và thực tiễn hoạt động chính là chìa khóa để khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển bền vững, qua đó khẳng định vai trò là động lực nòng cốt, đưa kinh tế – xã hội của tỉnh bước vào giai đoạn bứt phá mạnh mẽ./.
Nguyễn Hoàng Nam
